Luật Sư Tổng Hợp
  • TRANG CHỦ
  • Giới Thiệu
  • Luật Sư Tranh Tụng
    • Lĩnh vực dân sự
    • Lĩnh vực hình sự
    • Lĩnh vực doanh nghiệp
    • Lĩnh vực lao động
    • Lĩnh vực đất đai
    • Lĩnh vực thương mại
    • Lĩnh vực thuế
    • Lĩnh vực sở hữu trí tuệ
    • Lĩnh vực hôn nhân và gia đình
    • Thủ tục hành chính
  • Luật Sư Tư Vấn
    • Luật dân sự
    • Luật hình sự
    • Luật doanh nghiệp
    • Luật lao động
    • Luật đất đai
    • Luật thương mại
    • Tư vấn luật thuế
    • Luật sở hữu trí tuệ
    • Luật hôn nhân & gia đình
    • Dịch vụ hành chính
  • Văn Bản Pháp Luật
    • Hiến pháp
    • Luật
    • Pháp lệnh
    • Lệnh
    • Nghị định
    • Nghị quyết
    • Quyết định
    • Thông tư
    • Chỉ thị
    • Công văn
    • Văn bản quốc tế
  • Diễn Đàn Pháp Luật
Không Kết Quả
Xem Tất Cả Kết Quả
  • TRANG CHỦ
  • Giới Thiệu
  • Luật Sư Tranh Tụng
    • Lĩnh vực dân sự
    • Lĩnh vực hình sự
    • Lĩnh vực doanh nghiệp
    • Lĩnh vực lao động
    • Lĩnh vực đất đai
    • Lĩnh vực thương mại
    • Lĩnh vực thuế
    • Lĩnh vực sở hữu trí tuệ
    • Lĩnh vực hôn nhân và gia đình
    • Thủ tục hành chính
  • Luật Sư Tư Vấn
    • Luật dân sự
    • Luật hình sự
    • Luật doanh nghiệp
    • Luật lao động
    • Luật đất đai
    • Luật thương mại
    • Tư vấn luật thuế
    • Luật sở hữu trí tuệ
    • Luật hôn nhân & gia đình
    • Dịch vụ hành chính
  • Văn Bản Pháp Luật
    • Hiến pháp
    • Luật
    • Pháp lệnh
    • Lệnh
    • Nghị định
    • Nghị quyết
    • Quyết định
    • Thông tư
    • Chỉ thị
    • Công văn
    • Văn bản quốc tế
  • Diễn Đàn Pháp Luật
Không Kết Quả
Xem Tất Cả Kết Quả
Luật Sư Tổng Hợp
Không Kết Quả
Xem Tất Cả Kết Quả
Trang chủ Nghiên Cứu Pháp Luật

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

bởi Luật Sư Tổng Hợp 01
16/06/2026
trong Nghiên Cứu Pháp Luật
0
THÔNG TƯ 04/2015/TT-BTP HƯỚNG DẪN TẬP SỰ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
0
CHIA SẺ
0
XEM

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.. 1

  1. Tính cấp thiết của Đề tài…… 1
  2. Mục đích của Đề tài……. 2
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………….…………………2
  4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………….3
  5. Cấu trúc của tiểu luận…………………………………………………………3

# Tác giả: Luật sư Lê Đình Lý

CHƯƠNG 1         CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ……………….. 1

1.1     Khái niệm, đặc điểm của kiểm toán Nhà nước. 1

1.1.1    Khái niệm kiểm toán …………………

1.1.2    Khái niệm và đặc điểm của kiểm toán Nhà nước ……………..

1.2     Khái niệm, nội dung điều chỉnh, đặc điểm và vai trò của pháp luật về kiểm toán nhà nước. 1

1.2.1    Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về kiểm toán nhà nước

1.2.2    Đặc điểm của pháp luật về kiểm toán nhà nước ………………………….

1.2.3    Vai trò của pháp luật về kiểm toán nhà nước …………………………

CHƯƠNG 2       QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.. 3

2.1     Qúa trình hình thành kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.. 3

2.2     Thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.. 3

2.3     Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 3

CHƯƠNG 3       GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.. 9

3.1     Quan điểm hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.. 9

3.2     Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.. 9

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ.. 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 14

PHỤ LỤC. 15

Mở đầu:

  1. Tính cấp thiết của Đề tài:

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: “Nhà nước ta làNnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nên tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân và với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất: có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều đó, đã thể hiện yêu cầu của đảng phải tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước. Để tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước theo yêu cầu của đảng, cần phải có các công cụ kiểm soát có hiệu lực Hiệu lực và hiệu quả. Trong đó có cơ quan kiểm toán nhà nước. Với vị thế là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc Hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, kiểm toán nhà nước sẽ là công cụ kiểm tra tài chính có hiệu lực nhất của nhà nước đối với mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện đảng và nhà nước ta đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng lãng phí ở nước ta hiện nay.

 Trên cơ sở các văn bản pháp luật, tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước ngày càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát của nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Mặc dù đã có những bước phát triển quan trọng nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước cũng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Từ những lý do trên đây, việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Do vậy, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài.

  1. Mục đích của Đề tài:

 Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước, đề tài đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
  2. Đối tượng nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam; những nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán của nhà nước.

  1. Phạm vi nghiên cứu:

 Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm toán nhà nước qua các thời kỳ, luật kiểm toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành và những quy định và kiểm toán nhà nước trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan từ khi kiểm toán nhà nước được thành lập đến nay.

  1. Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái quát hóa, đánh giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước.

Phương pháp lịch sử, thống kê so sánh được sử dụng nhằm đánh giá quá trình phát triển, thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước.

Phương pháp so sánh pháp luật cũng được sử dụng trong việc xác định quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước có tính đến kinh nghiệm quốc tế và pháp luật kiểm toán nhà nước, bởi lẽ pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam còn khá mới mẻ, hoàn thiện pháp luật phải được đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực và kiểm toán nhà nước

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

1.1.     Khái niệm và đặc điểm của kiểm toán nhà nước

  • Khái niệm kiểm toán

 Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam đã có hoạt động của các công ty kiểm toán nước ngoài. Cho đến nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán. Tuy nhiên, quan niệm và kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu nhập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập.

Kiểm toán có nhiều loại khác nhau. Căn cứ theo loại hình tổ chức, kiểm tra được chia thành: kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.

Kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính tối cao của quốc gia, thực hiện việc kiểm tra và báo cáo việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của nhà nước ở các đơn vị.

Kiểm toán nội bộ được tổ chức bên trong mỗi đơn vị phải thực hiện kiểm tra và có ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình.

Kiểm toán độc lập được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp kiểm toán công ty hay hạn kiểm toán nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có tính chuyên môn cho xã hội.

  • Khái niệm và đặc điểm của Kiểm toán Nhà nước

 Ở nước ta sự ra đời và phát triển của kiểm toán nhà nước do yêu cầu của sự phát triển Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Trước khi thành lập kiểm toán nhà nước không có cơ quan nào trong bộ máy nhà nước nước của nhà nước ta thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước. Do vậy, so với các hoạt động kiểm tra, kiểm soát khác của nhà nước và so với các loại hình kiểm toán khác (kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập) kiểm toán nhà nước có những đặc điểm cơ bản như sau:

 Thứ nhất, kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính từ bên ngoài. Cơ quan kiểm toán nhà nước là một tổ chức kiểm tra từ bên ngoài, nằm ở bên ngoài các hoạt động tài chính ngân sách và nằm ngoài các đơn vị được kiểm toán. Điều này đảm bảo cho người kiểm tra và người bị kiểm tra không đồng nhất với nhau và giữ được một khoảng cách tối thiểu nhất định giữa họ với nhau, nhằm bảo đảm tính độc lập về mặt nghiệp vụ và thiết chế của kiểm toán nhà nước. Đây là đặc điểm nổi bật phân biệt nhiều hoạt động của kiểm toán nhà nước với hoạt động thanh tra nhà nước, thanh tra tài chính, kiểm toán nội bộ.

 Thứ hai, hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước mang tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; trung thực, khách quan. Đây là đặc điểm cơ bản nhất, yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước. Vấn đề này được quy định thành nguyên tắc và được cụ thể hóa trong các điều, khoản của luật kiểm toán nhà nước và các quy chế liên quan đến tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

 Thứ ba, đối tượng kiểm toán của kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước ở tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan với phạm vi rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Với tư cách là chủ sở hữu các nguồn lực tài chính và tài sản quốc gia, nhà nước thành lập cơ quan kiểm toán nhà nước để kiểm soát việc quản lý, sử dụng các nguồn lực nó của các chủ thể có liên quan, bảo đảm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của đất nước. Do vậy, về nguyên tắc ở đâu có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước thì ở đó có hoạt động kiểm toán nhà nước.

 Thứ tư, chức năng của kiểm toán nhà nước là kiểm tra, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị, trong đó xác nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán là chức năng đặc trưng riêng của kiểm toán nói chung và kiểm toán nhà nước nói riêng. Đồng thời kiểm toán nhà nước cũng có chức năng kiểm toán việc tuân thủ pháp luật và đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Kiểm toán nhà nước đưa ra các kết luận, kiến nghị nhưng việc xử lý các kết luận, kiến nghị kiểm toán lại do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bản thân các đơn vị được kiểm toán thực hiện. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp rất chặt chẽ vừa kiểm tra nhà nước với các cơ quan có liên quan thì hiệu lực kiểm toán mới được xác lập trên thực tế.

Từ sự phân tích những đặc điểm của kế toán nhà nước nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về kế toán nhà nước như sau: kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính: việc tuân thủ pháp luật: tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước.

Qua các giai đoạn phát triển của xã hội, kiểm tra tài chính nhà nước được thực hiện dưới những hình thức khác nhau. Theo thông lệ quốc tế, ở hầu hết các nước trên thế giới, kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính cao nhất của nhà nước hay còn gọi là cơ quan kiểm toán tối cao. Mục đích hoạt động của kiểm toán nhà nước phục vụ việc quản lý vĩ mô của nhà nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản và kinh tế của nhà nước.

1.2.     Khái niệm, nội dung điều chỉnh, đặc điểm và vai trò của pháp luật về kiểm toán nhà nước

  • Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về kiểm toán nhà nước

Ở nước ta, pháp luật và kiểm toán nhà nước mới được hình thành trong thời kỳ đổi mới đất nước và đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm qua vì nhiều lý do khác nhau mà khái niệm pháp luật về kiểm toán nhà nước chưa được các nhà khoa học, cán bộ quản lý nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Do vậy, đến nay trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, vẫn chưa đưa ra được khái niệm pháp luật kiểm toán nhà nước một cách thống nhất và hoàn chỉnh.

Thật là phải kiểm tra nhà nước là một bộ phận của hệ thống pháp luật, do vậy có đầy đủ các đặc trưng của pháp luật và có những biểu hiện đặc thù riêng cụ thể là:

– Tính quy phạm phổ biến: tính phổ biến của pháp luật về kiểm toán nhà nước được hình thành dựa trên cơ sở của nhu cầu và khả năng điều chỉnh hành vi xã hội của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí nhà nước, vì bản thân thì chị bảo quyền lực nhà nước đã mang tính chất phổ biến. Pháp luật kiểm toán nhà nước, do đó có tính phổ biến và bắt buộc, nó điều chỉnh các quan hệ xã hội tồn tại khách quan trong tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước.

– Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Trần xác định về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật trong những hình thức xác định. Đặc tính nổi bật của pháp luật về kiểm toán nhà nước thể hiện ở việc xác định một cách rõ ràng và chặt chẽ những nội dung của quy phạm pháp luật, của văn bản pháp luật và của hệ thống pháp luật. Để thực hiện được yêu cầu này, cần phải diễn đạt nội dung của pháp luật về kiểm toán nhà nước bằng ngôn ngữ pháp lý chuyên ngành rõ ràng, chính xác dưới hình thức nhất định của pháp luật. Cách viết một quy phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước phải rõ ràng, chính xác, cụ thể và một nghĩa, có khả năng áp dụng trực tiếp. Tính xác định về mặt hình thức của pháp luật về kiểm toán nhà nước còn được thể hiện thông qua những hình thức thể hiện bên ngoài và thủ tục thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

 – Tính bắt buộc chung: bắt buộc chung là một thuộc tính vốn có của pháp luật nói chung và pháp luật về kiểm toán nhà nước nói riêng nhằm bảo đảm hiệu lực và tính nghiêm minh của pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi có hiệu lực thì mang tính bắt buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân có liên quan. Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động kiểm toán nhà nước có nhận tổ chức, cá nhân để che giấu những hành vi gian lận, tham nhũng trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đã không chấp hành nghiêm chỉnh, thậm chí chống lại sự thi hành pháp luật. Do vậy cưỡng chế buộc mọi người phải thi hành nghiêm chỉnh pháp luật về kiểm toán nhà nước là điều cần thiết.

–  Tính bảo đảm thực hiện bằng nhà nước: pháp luật về kiểm toán nhà nước do nhà nước ban hành và vì vậy được nhà nước bảo đảm thực hiện. Điều đó có nghĩa rằng, nhà nước đã trao cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và công nhân. Có như vậy pháp luật về kiểm toán nhà nước mới trở thành vui thật sự sự mang tính bắt buộc chung và mới thực sự là công cụ hữu hiệu để qua nhà nước quản lý xã hội. Tính bảo đảm thực hiện bằng nhà nước của pháp luật về kiểm toán nhà nước được thực hiện nhờ khả năng tổ chức thực hiện của nhà nước bằng cả phương pháp thuyết phục và cưỡng chế thi hành. Qua đó, pháp luật về kiểm toán nhà nước có khả năng được thực hiện trong cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi và nhanh chóng. Cho nên nói đến hiệu lực và hiệu quả của pháp luật về kiểm toán nhà nước, đồng thời nói đến vai trò và khả năng của nhà nước trong việc bảo đảm cho pháp luật về kiểm toán nhà nước được thực thi trên thực tế.

  • Đặc điểm của pháp luật về kiểm toán nhà nước

Từ định nghĩa pháp luật về kiểm toán nhà nước nêu trên và qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước hiện hành có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của pháp luật về kiểm toán nhà nước như sau:

Một là, pháp luật về kiểm toán nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước, vừa có quy định mang tính chất hành chính, vừa có những quy định mang tính chất tố tụng, lại có những quy định mang tính nghề nghiệp chuyên môn. Nhóm quy phạm mang tính chất hành chính tại chủ yếu trong các chế định về để lấy pháp lý của kiểm toán nhà nước, tổng kiểm toán nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán nhà nước, mối quan hệ do kiểm toán nhà nước với Quốc Hội, chính phủ: những quy định về tổ chức và chỉ đạo hoạt động của kiểm toán nhà nước với các đơn vị trực thuộc kiểm tra nhà nước, nhóm quy phạm mang tính nghề nghiệp chuyên môn chủ yếu thể hiện trong các quy định về chuẩn mực kiểm toán nhà nước, như: quy định về nguyên tắc hoạt động, điều kiện và yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, năng lực đối với kiểm toán viên nhà nước, Quy định về nghiệp vụ kiểm toán và sử lý các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán mà kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động kiểm toán.

Hai là, pháp luật về kiểm toán nhà nước quy định hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công, nhằm chống thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó. Do vậy, khác với các tổ chức kiểm toán khác kiểm toán độc lập kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước có đối tượng kiểm toán là hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước và phạm vi kiểm toán là mọi cơ quan, tổ chức đơn vị có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Sự vi phạm nguyên tắc hoạt động kiểm toán, quy trình kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên nhà nước đều có nguy cơ dẫn đến hậu quả là không bắt được hoặc bao che cho hành vi tham nhũng gây thất thoát tiền và tài sản của nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Ba là, nguồn của pháp luật kiểm toán nhà nước mang tính toàn diện hơn so với nguồn của pháp luật về thanh tra, kiểm tra tài chính. Nguồn của pháp luật kiểm toán nhà nước không chỉ thay đổi các văn bản pháp luật chuyên ngành và kiểm toán nhà nước các nghị quyết của hội ban thường vụ Quốc hội nghị định của chính phủ quyết định của tổng kiểm toán nhà nước mà còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng và phòng chống gian lận, sai sót trong quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước. Đặc biệt địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước cần phải được quy định trong hiến pháp đạo luật cơ bản của nhà nước theo khuyến cáo và thông lệ của nhiều quốc gia trên thế giới.

Bốn là, pháp luật về kiểm toán nhà nước ở nước ta là một lĩnh vực pháp luật còn khá mới mẻ, xong được sự quan tâm của đảng và nhà nước, hệ thống pháp luật kiểm toán nhà nước được quan tâm xây dựng và từng bước hoàn thiện. Đến nay, tổ chức và hoạt động kiểm toán nhà nước đã được điều chỉnh bởi luật kiểm toán nhà nước, một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nội dung của luật kiểm toán nhà nước đã được cơ bản thể hiện được các nguyên tắc và chuẩn mực kiểm toán quốc tế, tiếp thu cho chọn lọc những kinh nghiệm của pháp luật về kiểm toán nhà nước của các nước trên thế giới. Đặc điểm này đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo của đảng và nhà nước sự cố gắng nỗ lực của kinh tế nhà nước và sự quan tâm phối hợp của các cơ quan Quốc hộ,i các bộ, ngành đối với công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay.

  • Vai trò của pháp luật về kiểm toán nhà nước

Pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật vì con người phải phục vụ con người, điều đó đòi hỏi muốn xây dựng nhà nước pháp quyền trước hết phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ phải hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, trong đó có pháp luật về kiểm toán nhà nước. Như vậy, pháp luật về kiểm toán nhà nước là một trong những phương tiện có vai trò quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân dân, vì nhân dân. Vai trò của pháp luật về kiểm toán nhà nước được thể hiện đó những nội dung cơ bản sau:

Một là, thể chế hóa chủ trương, chính sách của đảng về phát triển kiểm toán nhà nước. Chủ trương, chính sách của đảng về phát triển kinh tế nhà nước đi vào cuộc sống thực tế bằng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau, nhưng một trong những công cụ quan trọng nhất có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội là phải thông qua nhà nước. Nhà nước bằng công cụ riêng có của mình là pháp luật thể chế hóa những chủ trương đó thành hệ thống quy phạm pháp luật. Theo thống quy phạm này điều chỉnh, thực hiện hóa các chủ trương của đảng về kiểm toán nhà nước vào đời sống và buộc mọi chủ thể có liên quan và chấp hành nghiêm chỉnh. Đồng thời hệ thống quy phạm đó cũng là công cụ hữu hiệu để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước.

 Hai là, pháp luật về kiểm toán nhà nước là cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra tài chính nhà nước độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước luôn dựa trên những cơ sở, nên tảng pháp lý nhất định đó là pháp luật về kiểm toán nhà nước. Để hoạt động kiểm toán nhà nước là hiệu quả, đòi hỏi phải xác định một cách khoa học về cách thức tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước cũng như quan hệ vô kiểm tra nhà nước với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tổ chức có liên quan. Hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước là hoạt động kiểm tra tài chính từ bên ngoài, điều này đảm bảo tính độc lập về mặt nghiệp vụ và tính trung thực, khách quan của kết quả kiểm toán.

 Ở nước ta, sắp đặt và kiểm toán nhà nước không ngừng được hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước đá bóng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, đồng thời phù hợp với Các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Pháp luật về kiểm toán nhà nước đã xác lập nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trung thực, khách quan, xác lập địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc Hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức phù hợp, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để xây dựng kiểm toán nhà nước trở thành cơ quan kiểm tra tài chính có hiệu lực và hiệu quả của nhà nước.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

2.1.     Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán độc lập

Theo Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 quy định về tổ chức và hoạt động của DNKT độc lập đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán có các nội dung như sau: Loại hình DNKT độc lập; Vốn của DNKT độc lập; KTV hành nghề trong DNKT độc lập; Phạm vi hoạt động của DNKT độc lập.

Thứ nhất, về loại hình DNKT độc lập: Khoản 5 Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 quy định: “DNKT là doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Thứ hai, về loại hình DNKT độc lập: Theo Điều 20 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 quy định chỉ có ba loại hình doanh nghiệp được kinh doanh dịch vụ kiểm toán bao gồm: công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam được kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về vốn của DNKT độc lập: Hình thức phổ biến của tổ chức kiểm toán trên thế giới là công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân dưới dạng văn phòng kiểm toán.

Thứ tư, về KTV hành nghề trong DNKT độc lập: Doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán ngoài đáp ứng được điều kiện về loại hình doanh nghiệp và về vốn pháp định như trình bày ở trên còn phải đảm bảo có ít nhất năm KTV hành nghề tại doanh nghiệp

Thứ năm, về phạm vi hoạt động của DNKT độc lập: Ngành nghề kiểm toán là ngành nghề đặc thù, hoạt động kinh doanh có điều kiện, có thể nói kết quả kiểm toán được nhiều thành phần tham gia trong nền kinh tế sử dụng mang tính chất quan trọng.

2.2.     Thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Qua hơn 25 năm ra đời và phát triển, từ năm 1991 đến nay, ngành kiểm toán độc lập Việt Nam đã dần khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường và trở thành bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời, nó là một kênh thông tin cần thiết và đáng tin cậy cho các nhà đầu tư, các chủ thể trong nền kinh tế xem xét tham gia và chi phối hợt động kinh tế của mình. Hoạt động kiểm toán độc lập đã trở thành nhu cầu cần thiết để công khai, minh bạch thông tin tài chính, phục vụ lợi ích của doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Hầu hết các DNKT độc lập đang hoạt động tại Việt Nam đều tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, mặc dù pháp luật Việt Nam cho phép ngoài loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên còn có loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là hai loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn. Tuy nhiên, do nền kinh tế thị trường của nước ta chưa thực sự phát triển và minh bạch về thông tin tài chính làm cho rủi ro rất cao đối với ngành kiểm toán độc lập, nên các chủ thể kiểm toán độc lập lựa chọn loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp để an toàn về mặt tài chính.

2.4.     Nguyên nhân của hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra

Một là, hệ thống pháp luật kiểm toán độc lập về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán kiểm toán độc còn chưa phát huy được hiệu quả.

Hai là, hệ thống pháp luật kiểm toán độc lập chưa quy định cụ thể và nghiêm ngặt trong việc xử lý vi phạm của các công ty kiểm toán và truy cứu trách nhiệm của họ khi vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm trong hoạt động kiểm toán.

Ba là, hệ thống pháp luật kiểm toán ở nước ta còn non trẻ mới có luật kiểm toán độc lập năm 2011 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thay thế cho các Nghị định, Thông tư cũ. Điều đó cho thấy, luật kiểm toán là một ngành luật còn khá mới mẻ chính vì vậy việc tuyên truyền phổ biến và đưa pháp luật vào trong cuộc sống cũng phải mất một khoảng thời gian tương đối dài.

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Để xây dựng kiểm toán nhà nước trở thành một công cụ mạnh về kiểm tra tải chính nhà nước, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết đề cập chủ trương phát triển kiểm toán nhà nước. Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước nhằm tiếp tục đầy mạnh thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, góp phần nâng cao vị trí, vai trò và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán Nhà nước.

Thể chế hóa kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật là phương hướng chủ yếu và cơ bản hiện nay trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta nói chung và pháp luật kiểm toán nhà nước nói riêng, là cơ sở để tăng cường pháp chế XHCN, Đồng thời, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là biện pháp bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng bằng pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, qua đó khẳng định sự đúng đắn và bảo đăm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội. Nguyên tắc pháp chế XHCN yêu cầu hoạt động thể chế đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật phải mang tính chủ động tích cực. Vì vậy, trong hoạt động kiểm toán nhà nước cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ngay từ khâu thể chế hóa, bảo đảm cho các đường lồi, chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kiểm toán nhà nước được thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn và kíp thời, nhằm nhanh chóng xây dựng được một hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước bao đảm tính toàn diện, thống nhất và đẩy đủ từ các quy định về kiểm toán nhà nước trong Hiến pháp đến Luật Kiếm toán nhà nước và các đạo luất có liên quan, các văn bản QPPL hướng dẫn thi hành và hệ thống chuẩn mực, quy trình kiểm toán nhà nước. Trong đó, việc nghiên cứu xác lập địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước trong Hiến pháp là hết sức cần thiết và là yêu cầu khách quan, phủ hợp với thông lệ quốc tế, nhằm bảo đảm nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tạo cơ sở pháp lý xây dựng kiểm toán nhà nước trở thành công cụ vững mạnh và sắc bén của Đảng, Nhà nước về kiểm tra tài chính nhà nước.

4.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về kiểm toán nhà nước trước hết xác định địa vị pháp lý của cơ quan kiểm toán nhà nước trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước. Vấn đề xác định địa vị pháp lý và tính độc lập của cơ quan kiểm toán nhà nước được khẳng định tại Điều 5,Có thể xem đây là một nguyên tắc quan trọng trong việc thiết lập cơ quan kiểm toán nhà nước ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi:

Trước hết, cần khẳng định sự tồn tại và hoạt động kiểm toán nhà nước là nhu cầu thiết yếu của Nhà nước pháp quyền từ Hiển pháp, Luật Kiểm toán nhà nước cho tới các đạo luật có liên quản.

Thứ hai, cơ quan kiểm toán nhà nước phải được xem như là một tổ chức kiểm tra tài chính công cao nhất của quốc gia và không có tổ chức nào thay thế được.

Thứ ba, cơ quan kiểm toán nhà nước phải có vị trí tương xứng trong bộ máy quyền lực Nhà nước, dù nó nằm ở nhánh quyền lực nào trong cơ cấu bộ máy quyền lực của nhà nước. Tùy thuộc mỗi quốc gia, tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao được xác lập theo hình thức thích hợp, song điều quan trọng là mọi hoạt động của nó phải được đảm bảo bằng pháp luật và được trao quyền một cách rộng rãi, để có thể thực thi nhiệm vụ của mình.

Trong suốt quá trình thảo luận của Quốc hội về Dự án Luật Kiểm toán nhà nước, địa vị pháp lý của cơ quan kiểm toán nhà nước là vấn đề được các đại biểu Quốc hội hết sức quan tâm và cho rằng đây là vấn đề rất cơ bản và quan trọng của Dự án Luật Kiểm toán nhà nước; chi khi xác định rõ địa vi pháp lý của cơ quan kiểm toán nhà nước mới có cơ sở để quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ của kiểm toán nhà nước với Quốc hội, Chính phú và các cơ quan khác của Nhà nước. Tuy nhiên, địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước có liên quan tới nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được quy định trong Hiến pháp và các luật về tổ chức và cũng là vấn đề rất mới mẻ, chưa có thông lệ ở nước ta. Do vậy, quá trình thảo luận nhiều đại biểu Quốc hội đã phát biểu nhiều ý kiến phân tích về nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề để đi đến thống nhất bảo đảm cho quy định của Luật Kiểm toán nhà nước phù hợp và có tính khả thi cao.

Đến nay, mặc dù Luật Kiểm toán nhà nước đã có quy định về địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước tại Điều 13, song thuật ngữ “chuyên môn” trong cụm từ “Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về kiểm tra tài chính nhà nước…” chưa phản ánh đúng bản chất của cơ quan kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất của quốc gia. Ngay trong quá trình thảo luận thông qua dự án Luật, một số đại biểu còn băn khoăn và không tán thành với thuật ngữ “chuyên môn”, Vì cho rằng cơ quan nào cũng phải có chuyên môn thuật ngữ “chuyên môn” chưa nói nên bản chất của kiểm toán nhà nước; đồng thời đề nghị cần quy định rõ kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất hoặc kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm toán tối cao như các nước trên thế giới đã quy định.

KẾT LUẬN

Qua gần 20 năm hoạt động, đặc biệt là sau hơn bảy năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước, địa vị pháp lý của về kiểm toán nhà nước đã được nâng cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức được quy định đầy đủ, cụ thể hơn; nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và của toàn xã hội về cơ quan về kiểm toán nhà nước và hoạt động kiểm toán nhà nước đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, nhất là sau khi về kiểm toán nhà nước thực hiện việc công bố công khai kết quả kiểm toán; hoạt động kiểm toán được tăng cường cả về quy mô kiểm toán, chất lượng và hiệu lực kiểm toán; các kết luận, kiến nghị kiểm toán được các đơn vị thực hiện đầy đủ và nghiêm tủc hơn. Tuy nhiên trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của về kiểm toán nhà nước vẫn còn nhiều tôn tại, bất cập. Chế định và đia vi pháp lý chưa tương xihng với vị trí, vai trò của về kiểm toán nhà nước, Địa vỉ pháp lý của về kiểm toán nhà nước Và Tổng về kiểm toán nhà nước chưa được quy định trong Hiển pháp – đạo luật cơ bán của Nhà nước như hầu hết các nước trên thế nên không tránh khôi khó khăn khi xáo định vi trí pháp lý, xây dựng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt đồng của co quan về kiểm toán nhà nước.

Trong bối cảnh đó nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm toán nhà nước là yêu cầu khách quan và cấp bách nhằm xây dựng về kiểm toán nhà nước trở thành công cụ mạnh của Nhà nước về kiểm tra tài chính nhà nước, góp phần làm minh bạch và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia.Bằng phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khoa học phù hợp, Luận án “Hoàn thiện phúp luật về kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đạt được mục đích và hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra.

DANH MỤC THAM KHẢO

  1. Đặng Văn Hải (2010), *Hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ và toàn diện cho tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước”, Tạp chí Kiểm toán, (7). tr. 47 – 49.
  2. Đặng Văn Hải (2011), *Kinh nghiệm các nước trên thế giới xác lập địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp và vận dụng cho Việt Nam*, Tạp chỉ Kiểm toán, (3), tr. 40 – 43.
  3. Đặng Văn Hải (2011), *Kinh nghiệm quốc tế trong quy định về xử lý hành vi vi phạm Luật Kiểm toán nhà nước và khả năng vận dụng ở Việt Nam”, Tap chí Kiểm toán, (S), tr. 54 – 56; (6), tr. 49 – 51.
  4. Đặng Văn Hái (2012). *Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đổi với hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay”. Tạp chỉ Kiểm toán, (2), tr. 36- 39,
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khỏa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  10. Đáng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X7. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
  11. Kiểm toán Nhà nước (2004), 10 năm xây dựng và phát triển KTNN Việt Nam, Hà Nội.
  12. Kiểm toán Nhà nước (2005), Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Ký yếu Hội thảo quốc tế, Hà Nội.
  13. Kiểm toán Nhà nước (2006). Định hướng chiến lược và giải pháp phát triển KTNN Việt Nam, Để tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội.
  14. Kiểm toán Nhà nước (2008), Đề ân trình Bộ Chính trị về tăng cường năng lực hoạt động của KTNM và các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giảm sắt của Đảng và Nhà nước, ngày 15-6, Hà Nội.
  15. Quốc hội (2002), Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi, Hà Nội.
  16. Quốc hội (2005), Luật Kiểm toán nhà nước, Hà Nội.
  17. Quốc hội (2005), Luật Phòng, chống tham nhũng, Hà Nội.
  18. Quốc hội (2008), Luật Cán bộ, công chức, Hà Nội.
Tin Trước

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Tin Mới Nhất

THÔNG TƯ 04/2015/TT-BTP HƯỚNG DẪN TẬP SỰ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

16/06/2026
Luật sư tại Tỉnh Lâm Đồng

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

16/06/2026
Một số vấn đề pháp lý liên quan đến tiền ảo

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam [số 79/2025/qh15

12/06/2026
Một số vấn đề pháp lý liên quan đến tiền ảo

Luật Thanh tra [số 84/2025/QH15]

12/06/2026
Một số vấn đề pháp lý liên quan đến tiền ảo

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng [ số 98/2025/QH15]

12/06/2026
Một số vấn đề pháp lý liên quan đến tiền ảo

Luật Giáo dục đại học 2025

12/06/2026

Luật Sư Tổng Hợp


Luật Sư Tổng Hợp là trang thông tin toàn diện về luật pháp của Việt Nam. Đồng thời tư vấn về luật cho các cá nhân và doanh nghiệp.

Danh Mục Liên Kết

  • Biểu Mẫu Văn Bản
  • Chỉ thị
  • Công văn
  • Dịch vụ hành chính
  • Dịch Vụ Pháp Lý
  • Giải Đáp Pháp Luật
  • Giới Thiệu
  • Hiến pháp
  • Lĩnh vực dân sự
  • Lĩnh vực doanh nghiệp
  • Lĩnh vực đất đai
  • Lĩnh vực hình sự
  • Lĩnh vực lao động
  • Lĩnh vực sở hữu trí tuệ
  • Lĩnh vực thuế
  • Lĩnh vực thương mại
  • Luật
  • Luật dân sự
  • Luật doanh nghiệp
  • Luật đất đai
  • Luật hình sự
  • Luật hôn nhân & gia đình
  • Luật lao động
  • Luật sở hữu trí tuệ
  • Luật thương mại
  • Nghị định
  • Nghị quyết
  • Nghiên Cứu Pháp Luật
  • Pháp lệnh
  • Quyết định
  • Tài Liệu Ngành Luật
  • Thông tư
  • Thủ tục hành chính
  • Tin Pháp Luật
  • Tư vấn luật thuế
  • Văn Bản Pháp Luật
  • Video Luật Sư

Tin Mới Nhất

THÔNG TƯ 04/2015/TT-BTP HƯỚNG DẪN TẬP SỰ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

16/06/2026
Luật sư tại Tỉnh Lâm Đồng

Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay

16/06/2026
  • Thành Viên Đăng Nhập
  • Trang Chủ

© LuatSuTongHop.com - Luật Sư Tổng Hợp All Rights Reserved.

Không Kết Quả
Xem Tất Cả Kết Quả
  • TRANG CHỦ
  • Giới Thiệu
  • Luật Sư Tranh Tụng
    • Lĩnh vực dân sự
    • Lĩnh vực hình sự
    • Lĩnh vực doanh nghiệp
    • Lĩnh vực lao động
    • Lĩnh vực đất đai
    • Lĩnh vực thương mại
    • Lĩnh vực thuế
    • Lĩnh vực sở hữu trí tuệ
    • Lĩnh vực hôn nhân và gia đình
    • Thủ tục hành chính
  • Luật Sư Tư Vấn
    • Luật dân sự
    • Luật hình sự
    • Luật doanh nghiệp
    • Luật lao động
    • Luật đất đai
    • Luật thương mại
    • Tư vấn luật thuế
    • Luật sở hữu trí tuệ
    • Luật hôn nhân & gia đình
    • Dịch vụ hành chính
  • Văn Bản Pháp Luật
    • Hiến pháp
    • Luật
    • Pháp lệnh
    • Lệnh
    • Nghị định
    • Nghị quyết
    • Quyết định
    • Thông tư
    • Chỉ thị
    • Công văn
    • Văn bản quốc tế
  • Diễn Đàn Pháp Luật

© LuatSuTongHop.com - Luật Sư Tổng Hợp All Rights Reserved.

Viber
Whatsapp
Phone



086 283 7339